Sign up

Thơ Tình Hoàng Lộc

BỮA NGÓ LẠI ĐỜI - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 21:41

 

 


bữa ngó lại đời

 

 

còn anh những thứ không còn

cái thân trôi dạt cái hồn phiêu linh

nằm đây đầu gối tay mình

lắng nghe sợi tóc xa đành màu xưa

 

hoàng lộc


MÂY XƯA BAY VỀ - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 17:51

 

mây xưa bay về

 

                 

mây bay về như mây ngày xưa

tội đời ta, cả đời giăng mưa

người ơi đã mấy trùng tan hợp

mà cõi buồn riêng cứ nhặt thưa

 

là thuở sân trường mơ bóng mây

tuổi đang trăng, hồn sớm trăng đầy

ngập ngừng theo tiếng chim mùa phượng

đành cánh chim vù, ta sẫy tay

 

ấy thế mà hơn hai mươi năm

người là mây nên tình phù vân

chăng hay ta những phen chìm nổi

đến chút tài hoa cũng cát lầm

 

ngờ đâu mây thuở ấy bay về

một góc trời riêng chỗ cố tri

thân thương tay của bàn tay nhỏ

người ơi, lòng cũ hãy còn se

 

hãy còn tơ tưởng thoáng mây qua

hai mươi năm đôi lứa đã già

ngó nhau, con mắt mờ con mắt

như thể đời ai vẫn có ta


hoàng lộc

 

 
Bài thơ viết năm 1986

       Nguyễn Tất Vịnh phổ ca khúc năm 2002

và Hạnh Nguyên hát 2004

 


VỚI LUÂN HOÁN - HL

— Viết bởi hoangloc @ 03:03

 

 

Luân Hoán,

ông anh phía trước

 

 

 

Cuống rốn của Luân Hoán được cắt tại Hội An, trước tôi một năm. Thắng nhất tuế vi huynh - nên Luân Hoán là ông anh của tôi .

 

Tôi trưởng thành tại Hội An - và Luân Hoán ở Ðà Nẵng, thành phố lớn nhất Quảng. Cái gì của thị thành, Luân Hoán đều biết trước tôi, trong đó có lắm thứ thuộc về các bộ môn nghệ thuật . Tôi là dân Trần Quí Cáp - anh ấy, Phan Chu Trinh - cũng là ngôi trường trung học bề thế hơn ...

 

Sinh trước một năm, Luân Hoán được lắm thứ trước tôi. Luôn luôn, tôi gọi Luân Hoán là ... Ông Anh Phía Trước.

 

*

 

Khoảng đầu năm 1960 - lần đầu tiên, tôi gặp nhà thơ Luân Hoán .

 

Ở Hội An lúc bấy giờ, mấy tay thơ lớp trên tôi là Thái Tú Hạp, Hoàng Quy, Thành Tôn có làm nhóm thơ Tình Người Sông Thu. Các anh góp mỗi người chừng 15 bài thơ, đánh máy trên giấy pelure fort và đóng thành tập .Dù tôi chơi rất thân với Thành Tôn nhưng tôi mới chỉ là thằng em tập tành viết lách, khó mà được gợi ý gia nhập nhóm .Tôi nhìn các anh thật ái mộ đến mê tín . Mượn được tập thơ  đọc mấy ngày trời, lòng tôi rộn ràng hạnh phúc  : sao bài nào của các anh cũng hay đến vậy !

 

Thời ấy, lớp tuổi ấy, theo tôi, ở Quảng có hai  người làm thơ vượt  trội những người khác . Ðó là Nguyễn Nho Sa Mạc và Luân Hoán . Khi tôi mới có vài bài thơ đầu đời, in ở vườn thơ báo Văn Nghệ Tiền Phong - thì những Luân Hoán, Nguyễn Nho Sa Mạc đã có thơ ở  Mai , Bách Khoa, Văn Học ...

 

Một hôm, anh Thành Tôn đưa tin : Luân Hoán sẽ ghé Hội An, thăm các anh .

 

Không biết các anh trong nhóm Tình Người Sông Thu có hớn hở hơn tôi trước cái tin này ?

 

Ðồng bạc học trò thật khó khăn, do các anh đóng góp - và lần thứ hai, sau khi đón tiếp Phan Duy Nhân, cũng là người thơ khá nổi thời ấy - tôi được phụ trách việc nước nôi đãi khách.

 

Tôi nhớ hoài chuyện đi mua bốn chai nước cam vàng, kèm ít đá đập . Tất nhiên chỉ Luân Hoán, ông khách quí và ba mạng trong nhóm Tình Người được uống thứ nước cao cấp này.

 

Còn thằng em Hoàng Lộc thì may mắn quá, được ...rót nước !

 

Số là đọc và thích thơ Luân Hoán , nên lòng tôi muốn gặp người .Hơn nữa, trong những ngày ấy - tôi đang vui với một bài thơ, được anh Hoài Thương chọn in hai màu trên tờ Thời Nay một cách trân trọng, có cái tựa đề niềm đau phố thị , rất thời thượng. Bài thơ thế này :

 

tôi xin giữ  dấu chân người

 

với niềm đau cũ ngàn đời nín thinh

 

dòng buồn chừ chót lênh đênh

 

héo hon đại lộ đôi ngành rẽ phân

 

lối về lòng có bâng khuâng

 

hỡi người con gái một lần tôi yêu ?

 

Anh Thái Tú Hạp đọc bài này, đã phán : Mình thấy thơ cậu cũng khá đấy ! (Lối xưng hô của đàn anh với đàn em thời ấy là vậy ). Tôi mong mỏi gặp Luân  Hoán để nghe anh có phán gì thêm !

 

Chừng hơn 10 giờ sáng, Thái Tú Hạp và Hoàng Quy và một người trẻ tuổi, vóc dáng thư sinh, nét cười dễ mến - cùng đi bộ từ phố chính Hội An ra tận Trường Lệ, ghé ngôi nhà anh Thành Tôn trọ học . Bốn người gặp nhau , rôm rả chuyện trò  - và tôi, cứ  tự nhiên làm kẻ bồi bàn . Thành Tôn giới thiệu tôi với Luân Hoán, như một thằng em ham  làm thơ và đọc thơ, vừa có bài thơ đầu tiên đăng trên Thời Nay . Ông anh Luân Hoán bắt tay tôi và nói : Thơ Hoàng Lộc bước bước đầu tiên khá vững vàng. Tôi sướng  mê người vì cái bắt tay và cách khen ngợi rất...bằng hữu của ông anh mới gặp.

 

Tôi khép nép đứng nghe những đàn anh nói về chuyện thơ - chuyện mấy tờ báo lớn ở Sài Gòn - chuyện những bè bạn của các anh đang sinh hoạt chữ nghĩa . Tôi lấy làm lạ là không nghe các anh nói về chuyện ...gái gung ?

 

**

 

Nhớ quán cô Thuyền, nhớ nhà Nam Ngãi

 

Câu trên là thơ Trần Hoài Thư , viết về những kỷ niệm ở Tam Kỳ, Quảng Nam .

 

Quán cô Thuyền là nơi mà mọi gã thanh niên Quảng ,có chút máu me văn nghệ thời ấy đều phải biết . Cô Thuyền nổi tiếng là hoa khôi một thời có lẽ cũng nhờ các ông anh Luân Hoán, Nguyễn Nho Sa Mạc ...bôi son trét phấn  ít nhiều ?

 

Chính tôi, đọc thơ các ông đề tặng Thuyền - sinh hiếu kỳ, băng bộ năm mươi cây số, từ Hội An, vào cho được Tam Kỳ để mong nhìn thử người đẹp.

 

Cái ngập ngừng của thằng trai mới lớn, cái nôn nao của một sự tìm gặp mà duyên cớ mơ hồ đã khiến tôi e dè tìm địa chỉ bà Thuyền . Ðể rồi, khi có  quyết định liều, chân bước vào cửa nhà, mắt đã nhìn vào phòng khách, lại...vội vã bước ra ! Chao ôi - đã có ông anh tôi, Luân Hoán và anh Nguyễn Nho Sa Mạc đang ngồi chình ình ở...ghế giữa nhà em !

 

Sau này, khi biết chút chút yêu thương - thấy gã đàn ông đến hỏi cưới người yêu, tôi viết - mà lại nhớ đến hình ảnh Luân Hoán hôm ấy ở quán Cô Thuyền :

 

từ trăm năm em, gã sức mạnh như thần

 

xô giạt đời anh - xoay cả đời em lại

 

kể chi chút tình mong manh sương khói ấy

 

ta đã hết lòng chăm chuốt vì nhau

 

 

từ trăm năm em, gã đánh phủ đầu

 

nhân danh những thói lề khắc nghiệt

 

chỉ chén rượu miếng trầu qua quít

 

mà gã được vào cửa chính nhà em !

 

Cuối cùng, tôi không biết cô Thuyền có phải là giai nhân thật trong đời, hay chỉ trong thơ Luân Hoán  !

 

***

 

Năm 1967, khi tôi đang dạy học tại trường Nguyễn Duy Hiệu, Vĩnh Ðiện - nhân chuyến tìm thăm vị cựu hiệu trưởng của tôi là nhà thơ Hoàng Thị Bích Ni ở đường Pasteur,  Ðà Nẵng - tôi có gặp lại ông anh Luân Hoán trên đường  Ðộc Lập . Hình như lúc ấy, anh rất bận - có cả Vương Thanh đi cạnh . Nghe đâu các anh đi đến điểm hẹn nào đó, có nhà phê bình văn học Ðặng Tiến đang chờ .

 

Lần thứ hai, tôi được ông anh bắt tay - cho dù lúc ấy, Luân Hoán đã in  đến tập Trôi Sông. Nhưng tôi vẫn lấy làm lạ là tại sao anh không ngỏ ý cho tôi được đi theo, ngó thử ông Ðặng Tiến một lần . Dù sao tôi cũng là... giáo sư  giảng dạy môn văn trung học, cũng đã biết làm thơ nữa ! (hì !)

 

Ðể cuối cùng, đến giờ này - tôi cũng chưa biết mặt nhà phê bình mà tôi ưa thích là anh Ðặng Tiến !

 

****

 

Sau hai tháng ở quân trường vì lệnh tổng động viên năm 1968, tôi được gắn alpha và xin phép về Hội An một tuần để thăm ông thân tôi bệnh , tôi có  ...ăn nằm với Luân Hoán một đêm, tại nhà anh, ở Ðà Nẵng.

 

Lần gặp thứ ba đầy tình thân - có lẽ bên tình văn thơ còn tình chiến hữu . Luân Hoán tốt nghiệp khóa 24 , còn tôi đang theo khóa 27 . Tôi gặp anh là lúc anh vừa xuất viện, vết thương chưa cắt chỉ, sau khi bỏ lại một bàn chân trên chiến trường Quảng Ngãi . Chắc Nén Hương Cho Bàn Chân Trái được viết trong thời điểm này .

 

Ðêm đó, tôi với anh cùng ngủ chung giường. Tôi có đọc câu thơ Ðinh Hùng cho anh nghe : anh với tôi giường chung mộng chung . Không biết ông anh có nghĩ là tôi đã tự ví mình như Ðinh Hùng, còn anh, như Thạch Lam chăng ?

 

Hai anh em tâm sự đủ điều, đến gần sáng mới vào giấc . Tôi cũng lấy làm lạ là tuy anh và tôi đều viết thơ tình - mà không hề nói với nhau về những... chuyện tình riêng ?

 

Sau đó nhiều năm, tôi về phục vụ một đơn vị  tại ngay Ðà Nẵng - nhưng vẫn ít có dịp cùng anh bù khú - đến nỗi nghe anh mở quán sách Ngôn Ngữ, tôi vẫn chưa đến quán này.

 

Chỉ có lần anh in xong Rượu Hồng Đã Rót, ký tặng tôi - và khi biết tôi muốn in thơ, anh đã giới thiệu Nguyễn Sông Ba cho tôi quen. Khi ấy, Nguyễn Sông Ba đang có một nhà in master ronéo ở Ðà Lạt, in khá đẹp. Rất tiếc, tôi chưa kịp in tập thơ này thì đã xảy ra chuyện tù tội !

 

*****

 

Năm 1994, khi anh Nguyễn  Mộng Giác in mấy bài thơ của tôi trên Văn Học - thì Luân Hoán và tôi mới bắt liên lạc lại với nhau . Anh vẫn làm thơ hay - và đã in rất nhiều thơ ở xứ người .

 

Cái bình bát của thơ sáu tám, nếu có như  người ta nói - theo tôi, của Quảng Nam, thì sau Bùi Giáng, đã vào tay Luân Hoán. Nhiều anh em Quảng vẫn tự hào về lục bát Luân Hoán - như một một dòng ca dao riêng mà sức bồi của phù sa ngôn ngữ làm tươi xanh mãi những cây lá thi ca của miền đất vốn yêu mến vần điệu này.

 

Thơ tình Luân Hoán phong phú quá chừng - vì anh đã quen biết - hay nói đúng hơn là đã gặp gỡ quá chừng những nhan sắc. Chừng vài chục cái tên người nữ, sau đó còn nhiều cái chấm chấm - chứng tỏ ông anh của tôi cũng là một trong topten của loài hiếu sắc .Thử kể ra, coi thử  : Thu Hà, Thu Liên, Quỳnh Chi, Quỳnh Cư, Như Thoa, Phước Khánh, Phước Hạnh, Hồ Thị Hồng, Huỳnh Phú, Thái Thu, Thùy Trâm. Scotte Jeanne, Lâm An, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hồng Hạnh, Trân Châu, Ỷ Vân, Ðoàn Thị Bích Hà, Lê Thị Quỳnh Như, Kiều Trang, Bích Quân, Minh Xuân, Ái Cầm, Thạch Trúc ...

 

Ôi- hơi sức nào kể ra cho hết !

 

Thế hệ làm thơ chúng tôi - thường thì hiếu sắc cho lắm - thì cũng chỉ hưởng chút hương hoa, phần xôi thịt thì lại nhường hết cho những người ngoài giới ? Luân Hoán cũng thế - cho nên thơ anh, người nữ hiện ra thật rực rỡ mà ấm nồng . Rớ đến xôi với thịt - thì làm sao có những vần thơ tình như thế ?

 

Nhan sắc nào cũng một thời . Các chị trong thơ ông anh tôi thì đẹp mãi xưa sau . Nhan sắc các chị, dù có chị đến nay đã có cháu ngoại đi nữa, cũng đã bất tử nhờ thơ Luân Hoán .

 

******

 

Lâm Chương, nhà văn - bạn tôi -  vẫn thường than dài rằng chúng tôi sinh ra trong chiến tranh, học hành trong chiến tranh, yêu thương theo kiểu hồn bướm mơ tiên .Thời sung sức nhất là thời lo đánh  đấm - rồi đi tù. Khi có tuổi, hình như có một thứ  không nguôi trong người - như một sự ức chế  lâu ngày thành bệnh  .

 

Tôi cũng thấy thế - thấy rõ hơn trong thơ tình Luân Hoán. Chỉ vì không dám rớ đến xôi thịt , ông anh tôi đã thành một người mà dân Quảng gọi là...hoang ngầm ?

 

đồi cao, cỏ tỉa gọn gàng

 

con chim mở mắt làng quàng muốn bay

 

đầu trần trụi, đứng, loay hoay

 

mùi hương phấn cỏ ứa đầy môi hoa ...

 

(đồi 888 Montréal)

 

 

thừa bàn tay

 

thọc túi quần

 

gặp em

 

vấp ngọn núi sừng sững nghiêng...

 

(gặp)

 

 

em ngồi trải cánh chân phơi

 

nắng nghiêng thơm một góc trời săm se

 

tôi ngồi đờ đẫn tay che

 

con-chim-thơ-đội-mộng xòe cánh bay...

 

(trên đồi cỏ)

 

 

cái đầu , gối mỏi cái tay

 

chập chờn lẫn lộn giữa ngày và đêm

 

duỗi chân,

 

đụng phải cái mền

 

vội co tay

 

ủm cái thèm-thịt-da

 

(lo mơ trong giấc ngủ ngày)

 

 

Ðọc những câu thơ như trên, thiệt...không chịu nổi !

 

*******

 

Luân Hoán sinh trước tôi, học trước, làm thơ trước, đi lính trước, giải ngũ trước, xuất ngoại trước ...  biết  yêu và lập gia đình cũng trước .

 

Tôi gọi Luân Hoán là Ông Anh Phía Trước. Ðáng lắm !

 

Tôi chỉ khám phá ra một điều, trước khi viết bài này chừng một tháng - ông anh Luân Hoán đã...sau tôi .

 

Số là khi điện đàm - anh em chúng tôi hay nói đùa với nhau. Có mẩu đàm thoại như sau  :

 

    - Sao rồi ? Anh vẫn khỏe chứ ?

 

    - Nhờ trời, vẫn OK. Cảm ơn Lộc .

 

 

    - Hì hì . Hoàng Lộc và Lâm Chương như đã bắt đầu yếu...mục ấy . Còn anh ?

 

    - Nhờ trời, vẫn ngon lành.

 

 

HOÀNG LỘC

 


 


VIẾT TRƯỚC NGÀY ĐI - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 00:13

 

 

viết trước ngày đi

 

lẽ ra khi ở tuổi này

sống đâu cũng sống qua ngày thì thôi

tiếc chi chút mộng bên trời

cái bay nhảy của một thời trẻ trung

 

lẽ ra cay đắng đã từng

mắt khô lệ - đủ xanh cùng cố hương

ráng dành một nắm tàn xương…

(mà điêu đứng, phải kiếm đường xa quê !)

 

lẽ ra nhớ buổi vai kề

đi đâu cũng liệu mà về với nhau

nắng sương thấm mặn trên đầu

còn ham những thứ dãi dầu làm chi !

 

vậy mà đành phải ra đi

sân ai bỏ gốc tình si ngậm ngùi

mốt mai rồi phải quê người

thương thân - chợt đứng hỏi trời, hỏi em

 

 

hoàng lộc

 


VỚI VŨ HỮU ĐỊNH - HL

— Viết bởi hoangloc @ 00:20

 

 

Vũ Hữu Định ơi,

ngựa hí tiếng gì ?

 

 

Cuối năm 1972, trên đường về nguyên quán Quảng Nam, từ Biên Hoà – tôi có đọc ở tạp chí Văn một bài thơ của Vũ Hữu Định.. Tôi nhớ nằm lòng câu kết của bài thơ :

 

nhớ mẹ thương em, ngựa hí tiếng gì  !

 

Đọc câu thơ – thương con ngựa hí . Nhưng hí tiếng gì, chỉ thi sĩ biết ?

 

Năm năm phương Nam - về tới quê, tôi đã ân ái thiệt tình với câu thơ ấy. Thi sĩ Nhâm Ngọ đây rồi - lớn hơn tôi một tuổi – chưa gặp mặt mà vẫn cứ…vi huynh !

 

Mùa thu năm 1973, trong một đêm đọc thơ do trường trung học Trần Quí Cáp tổ chức tại Hội An, tôi chính thức quen biết Vũ Hữu Định. Anh vừa đọc thơ, vừa hát – cùng một giai nhân – bài Còn Một Chút Gì Để Nhớ. Tiết mục do anh phụ trách rất duyên dáng, sinh động – giúp cho đêm thơ thành công. Bữa ăn khuya sau đó, tôi đã hỏi anh : Vũ Hữu Định ơi, ngựa hí tiếng gì ? Anh cười đáp : Đợi đi - sẽ trả lời !

 

Trước Tết năm ấy, Vũ Hữu Định ghé tìm tôi ỏ trại Ức Trai, số 2 Thanh Sơn,  Đà Nẵng với một mẫu bìa báo xuân. Anh nhờ tôi xin bộ chỉ huy đơn vị tôi in giúp 500 bìa báo, như một đóng góp nuôi trẻ bơ vơ mà anh hiện đang là ….phó giám đốc ! Cũng may, tôi đã lo xong  việc này. Bữa giao bìa cho anh, tôi lại hỏi : Nói đi ! Ngựa hí tiếng gì ? Anh vẫn cười : Chưa trả lời được - đợi đó !

 

Giữa năm 1974, tôi bận học một lớp chuyên môn ở Đà Lạt. Bỗng dưng  tôi thấy Đà Lạt rất giống Pleiku của Vũ Hữu Định : cũng em má đỏ môi hồng, cũng buổi chiều nào cũng chiều mùa đông, cũng anh khách lạ đi lên đi xuống. Ấy mà tôi không thể bắt bài thơ Pleiku của anh nói giùm chuyện Đà Lạt của tôi ! Tôi chiêm nghiệm ra một điều : em của thi sĩ là Em Pleiku nên mới có cái má màu đỏ, cái môi màu hồng của câu thơ ấy. Có khi đến giờ này, hễ nói đến Em Má Đỏ Môi Hồng – không thể không nghĩ tới Em Pleiku . Còn anh khách lạ phải chỉ là Vũ Hữu Định, mới biết các buổi chiều, mới đi lên đi xuống phố núi kia, đi năm phút trở về chốn cũ – cùng nỗi reo chỉ trong lòng anh reo : may mà có em đời còn dễ thương !

 

Hèn chi hai lần tôi hỏi anh ngựa hí tiếng gì, anh chỉ bảo : đợi ! Anh không trả lời như đã trả lời : Thử giang hồ để thấy chẳng ai phong ấn, rồi nghĩ từ quan trở lại quê, nghe ngựa hí - sẽ biết ngựa hí tiếng gì !

 

Những lần gặp sau, tôi không còn hỏi anh câu hỏi cũ.

 

Ra tù cuối năm 1981, về lại Hội An, tôi mới hay tin Vũ Hữu Định qua đời . Anh với tôi, tình thân đủ để chào nhau, chửi nhau - cả để đọc thơ cho nhau nghe. Tình thân ấy còn cho tôi biết một chuyện tình đẹp của anh và được đọc bản thảo tập thơ Yêu Như Tình Đầu. Vậy mà từ năm 1982 đến 1993, tôi chưa lần nào đến viếng mộ anh ! Có lẽ cái mặc cảm “ đi chưa đủ đi - sống chưa sống đủ “ của tôi, khiến tôi thẹn ngượng cùng hương hồn người bạn cũ ? Tôi đã hoài không biết ngựa hí tiếng gì ?

 

Lúc và nơi tôi viết những dòng này, người ta gọi là Đêm Trời Tây – và Vũ Hữu Định đang nằm giữa ban ngày quê nhà. Tôi muốn đổi cùng anh mà không thể được rồi ! Anh từng lang thang khốn đốn nơi ấy - để nằm xuống nơi ấy. Tôi từng như anh mà không được như anh. Anh cũng không thể từng như tôi để chạm mặt Đêm Trời Tây, những Đêm Trời Tây, tôi nghe ngựa hí.  Tiếng ngựa Hồ trong truyền thuyết, hí vì gió bắc. Ngựa gì ở Đêm Trời Tây hí vì gió đông ? Tôi nghe tiếng ngựa như anh đã từng nghe. Tôi biết ngựa hí tiếng gì như anh đã biết. Lẽ nào vì anh có tuổi Nhâm Ngọ mà nghe tiếng ngựa giỏi hơn tôi ???

 

Đọc tập thơ, bè bạn in vì anh, từ bên quê gửi qua, khi tôi rõ ra ngựa đã hí tiếng gì ! Thơ anh dung dị đến vậy, vẫn có câu phải đọc hơn hai muơi năm mới thấm . Anh đã là Thi Sĩ từ những câu thơ ấy .

 

Một ngày, trước mộ anh, tôi sẽ xin được kính rót thêm một phần rượu tặng.

 

 

1997

 

HOÀNG LỘC

                                      * chữ nghiêng là chữ nghĩa của Vũ


THƠ HÀ NGUYÊN DŨNG

— Viết bởi hoangloc @ 22:39

 

 

cuộc chia ly

 

                        * tặng Hoàng Lộc

 

hôm nay bạn tụ quanh đầy chiếu

ly bia trào bọt vui vui thay

mai này ngó lại quanh đời thiếu

đầu sông ngùi nhớ người chân mây

 

cái ngùi ngùi của đêm chia tay

như sương nhiễm tê tê tâm sự

nụ cười chia biệt cành hoa rủ

rụng xuống lòng nhau mấy thuở tàn

 

ta đứng buồn như dấu chấm than

cái bắt tay mạnh hơn dấu chấm

dấu chấm hết nửa đời lận đận

nửa đời người toan dựng nghiệp thơ !

 

giờ người đi như nước thoát bờ

ta còn chảy quẩn quanh trong nội

nguồn ngọn đã chia xa mấy đỗi

mà nghe róc rách mãi trong lòng

 

ta ước chi ta là con sông

gặp lụt tràn lên chảy thoả lòng

ứ hự, ta như con nước kẹt

trong đìa cỏ mục với rêu rong

 

5-1993

 

HÀ NGUYÊN DŨNG

 


CHUYỆN NGƯỜI ĐI THEO THƠ - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 06:42

 

 

chuyện người đi theo thơ

 

 

thuở mới lớn anh rình cô bạn học

tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ

khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp

là khi lòng cậu bé rối câu thơ

 

anh tập viết (nên chưa từng dám nói)

anh tập yêu đơn chiếc bảy năm trời

mắt cô bạn mỗi dần xanh thiếu nữ

câu thơ chừng hương ngát một hoa khôi

 

chữ nghĩa học trò xưng tụng nào nguôi

mùa thi cuối đưa cô về xứ khác

(thời chung lớp chỉ bàn sau bàn trước

đã như quen nỗi nhớ ấy muôn trùng)

 

cô ở phương xa yêu lỡ đôi lần

với phố tình đầu anh hoài vụng dại

không thể theo nhau, thôi đừng ngó lại

cô đi theo chồng – anh đi theo thơ

 

hơn bốn mươi năm anh cứ dật dờ

con đường của thơ ngời ngời oan nghiệt

gần khép trần gian mà thơ mù biệt

mới hiểu, ngậm ngùi, mấy kẻ thành danh !

 

hơn bốn mươi năm anh chợt thương mình

theo một con đường quá chừng cô độc

thuở tập viết, anh rình cô bạn học

mà cuối đời chưa hết rối câu thơ …

 

 

hoàng lộc


HOÀNG HÔN HOA, HOÀNG HÔN NGƯỜI - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 03:45

 


hoàng hôn hoa,

hoàng hôn người

 

em đi qua hoàng hôn thơm mùi dỏ dẻ

hoa chỉ cho đời hương lạ lúc hoàng hôn

anh cũng đã hoàng hôn nên tình yêu nồng nẫu thế

em được một lần cả hai thứ hương thơm .

 

hoàng lộc

 


THƠ THÁNG CHÍN - HL

— Viết bởi hoangloc @ 04:58

 


thơ tháng chín

 

tháng chín năm nào em hỡi

mùa thu qua vườn anh ?

 

khi khóm cúc vàng đầy hương

dù đời anh chưa ngớt nắng

em về - gió chớm thu

 

chiều, có lẽ quạnh hiu

và anh cứ ngồi bên hiên nhà, ngó đất trời

không nói ra lời

chỉ nói cùng em ( nói trong lòng ) :

- em có nhận lời tỏ của anh không ?

 

lời nói là câu hỏi

em nghe ?

câu hỏi muôn trùng

 

tháng chín

chưa từng bắt đầu lá rớt

mà hương cúc dịu ngát đời nhau

 

dòng sông - từ chưa biết em – ngày nào cũng trôi

ngày nào cũng làm anh trông ngóng

mang mang quê nhà

 

tháng chín

dòng sông đang chờ mưa

và khi biết em

anh chờ lênh đênh cùng tóc gió

em hoài nghi hoặc

nhưng đã không thể chối từ anh

 

tháng chín

công viên phong xanh

( không, hay sẽ phải úa tàn )

anh ngồi im, nói thầm

cùng tháng chín :

- em, mùa thu đi vào hồn anh …

 

 

hoàng lộc


CỦA MỘT BÀI THƠ LẬN ĐẬN - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 07:10

 

 

của một bài thơ lận đận

 

câu thơ anh chấm cuối dòng

đã nghe mát ruột mát lòng em chưa ?

 

bài thơ nhờ bàn tay đưa

định sang nhà - lại trời mưa xuống rồi

 

trong thơ anh kể chuyện đời

giọng buồn hiu có bồi hồi em không ?

trong thơ anh kể chuyện lòng

phận người ta, chút long đong phận mình

 

ngập ngừng - vẫn ngập ngừng anh

câu thơ kia lại tỏ tình rồi sao ?

 

bài thơ nhờ bàn tay trao

định sang – mà nỡ trời nào hết mưa

 

đành cho câu một chữ thừa

đã khuây khoả chút lòng ngờ chưa em ?

dấu than dấu phẩy đừng quên

xin câu thơ rõ giùm thêm ý người !

 

trang thơ anh gấp làm đôi

muốn sang - biết có tạnh trời mà sang …

 

 


CHIẾC NÓN CÂU EM TẶNG - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 07:44

 

 

chiếc nón câu em tặng

 

 

đây chẳng là sông Vị

mà mưa nắng dãi dầu

anh không là Lã Vọng

cũng sớm chiều buông câu 

 

em tặng nón che đầu

tình, em chằm mấy lớp

mỗi đường kim múi cước

giữ những điều trong nhau…

 

anh mê gì sông sâu

anh cần chi chí lớn

sông Vị ơi, tha hồ

bên trời kia gió sóng

những khanh tướng công hầu

dành cho ông, Lã Vọng !

 

anh chỉ cần chiếc nón

em tặng anh che đầu

anh chỉ vì chiếc nón           

mà sớm chiều buông câu…

 

1989

 

 

GIỮA CÁI-ĐÔI-MIỀN - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 07:02

 

 

giữa cái-đôi-miền


ơn em gửi một tay cầm
một môi ngoan với mắt đầm lệ vui
cho ta lại biết thương đời
lại ung dung đứng ngó trời hoàng hôn

nghe ra giữa cái-không-còn
thiên thu là chút linh hồn bụi bay

mai chiều ngó lại bàn tay
có khi môi mắt còn đầy lệ xưa?

bước ta - những bước không ngờ
ra đi là đã tìm mơ cõi về
bóng ngày vội nắng vàng hoe
đường gian nan mỏi chia lìa rồi em

thiên thu giữa cái-đôi-miền
bàn tay vẫy tiếng chiều im xuống hồn

 

 


ĐỌC THƠ HL - NGUYỄN VY KHANH

— Viết bởi hoangloc @ 09:24

 

( Năm cuối thế kỷ trước, tôi in thi phẩm Qua Mấy Trời Sương Mưa ở Hoa Kỳ. Nhà phê bình văn học trẻ Nguyễn Vy Khanh có viết về tập thơ này trên tạp chí Văn Học. Sau đó, ông in lại bài viết trong tập VĂN HỌC VÀ THỜI GIAN, xuất bản năm 2000.
 
Cũng vì cái tình văn nghệ  – các nhà văn Lương Thư Trung, Trần Doãn Nho và Phạm Xuân Đài đều có bài điểm sách, bài nói và bài giời thiệu tập thơ của tôi . Lần lượt, tôi sẽ chép lại để giữ làm tư liệu ).

Bên Tây hiên xem

QUA MẤY TRỜI SƯƠNG MƯA
của Hoàng Lộc 

 

 

 

Thi phẩm Qua Mấy Trời Sương Mưa của Hoàng Lộc (Văn Mới,  1999) đến với người thưởng ngoạn thi ca như những bài ca trữ tình, và với riêng chúng tôi như những âm vang từ  vạn cổ, cứ tưởng chừng sống lại với thời xưa và  người xưa. Khoảng hai trăm trang thơ gói ghém gần ba mươi  năm sáng tác, ba mươi năm ấy bấy nhiêu tình -bao tâm sự  và biết bao trôi nổi, phiêu lưu của cuộc đời !

Người xưa thời xưa vốn là chốn thiên đàng huyền hoặc  cho nhiều văn nhân thi sĩ, là một chốn trở về tự nhiên  với nhiều tâm hồn và tư duy, là một bảo đảm, là cái  phao cho những con người lao đao trong cuộc sống, và  thường là một thế giới an bình ! Tác giả cho chúng ta cảm giác đang ở bên mái Tây hiên đọc sách người xưa hay  xướng họa thi ca ! Bên mái hiên Tây khi sương mưa tiếp nối theo bước thời gian. "phố mù sương -theo mù sương /  lay bay những cánh thơ Đường trong ta (...) (tr. 77) (+). "Ta" đây là một con người "chút hồn đã cũ" (tr. 81) "bên hiên trăng ta quá đỗi nòi tình" (tr.106).

Thật vậy, Qua Mấy Trời Sương Mưa đem người đọc đến với những người xưa như Quan Vân-Trường, Khổng Minh,  Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, ... Người đọc có cảm tưởng đang sống cùng thời hay tái ngộ thích thú  với NGƯỜI XƯA, có lúc chung đụng, ngồi cùng tửu quán  với Thôi Hiệu, Lý Bạch, Phạm Thái hay đang tọa thính  những khúc đàn Phượng Cầu Hoàng, Hậu Đình Hoa, v.v. với tài tử văn nhân một thời ! Cái xưa ở đây cho  người đọc cảm nhận một tâm hồn á đông u uẩn nơi tác giả, "sầu chật một hồn sầu" mà dường như khoa học cũng không thể lý giải :

"đời nhỏ tưởng chừng dăm hớp rượu- ai hay sầu chặt một hồn sầu- ta kiếm quẩn quanh trời cố xứ - hồng nhan, hồng nhan -ta chiêm bao (...) nhớ em, nhớ buổi trăng tàn khuyết, quán cuồng hào sĩ cũng rưng rưng- như ta, dễ một lần ta khóc (mà khóc!)- em hát liêu trai khúc nguyệt cầm (...) (Về Hội An, Uống Rượu Đợi Người)

Trước cảnh cũ, nhà thơ vẫn nghĩ "nhà người mái cổ vàng rêu / mà ta lẩn quẩn những điều không đâu!" (tr. 77). Rồi đem cái ta "kém cỏi" đọ với những trang tráng sĩ và những bực thánh hiền ngày xưa:

"nghĩ vô ích cho một thời nghiên bút
câu thơ suông không cứu nổi đời mình
tráng sĩ chi ta mà đầu cũng bạc
tiếng tăm gì mà khổ với thân danh?
(...) ơi những đại thánh hiền nghìn năm trước
với đời này hơi sức dễ bao lăm?
ấy thế đó mà ta còn sống được
giữa mịt mù cho tới hết trăm năm ?"
(Thời Hết Thời -Hội An)

Vì tác giả tự xem đời mình đã dở dang thất chí, và mỏi mệt đường đời, đành tìm vui với rượu:

"dẫu chẳng hề xưng ta tráng sĩ / cũng thấy chừng như mỏi kiếm cung / xin được mời ngươi đôi hớp rượu / cho lòng qua khỏi buổi tàn đông..."(Mặc Cho Đời Bụi Phủ).

Giữa mùa đông nâng chén rượu và nghĩ "lão Khổng Khâu xưa mà sống lại / như ta -cũng ôm đầu khóc ròng" (Rượu Mùa Đông). Uống để mà nghĩ tới đời thăng trầm đáng ra phải quên : "đáng kiếp cho cái nòi Lý Bạch / trăng đời ngươi về một nhà aỉ" (Uống Rượu Một Mình).

Người xưa đó có thể là tiên nhân nước Việt, khi Xuân về nhắc nhở Nguyễn Trãi như nói lên cái phẫn chí của cuộc đời đứt gánh nửa đường: "đỏ mặt chào Xuân đôi hớp rượu / lòng riêng thầm thỉ hoa nhà ai / bốn mươi tư tuổi ta già khụ / đêm ngắt, đèn xanh mắt Ức Trai" (Khai Bút).

Chí chưa thành, dĩ nhiên có những lúc đói, lúc đó nhà thơ mới đem tiền nhân Nguyễn Công Trứ ra mà trách : "quân tử nào ăn chẳng cầu nỏ / Tồn Chất tiên sinh, ông là tên ba láp / (...) nhẩm phú hàn nho, biết lời ông nói trật / muốn chửi đổng vài câu, lại sợ ông buồn" (Nói Chuyện Đói Với Nguyễn Công Trứ).

Cái không khí xưa cũng có thể là chuyện tỏ tình bên mái Tây, dùng chuyện xưa, người xưa để làm quen với "tiểu thơ" hôm nay. Tây Hiên đây là chốn tình tự, níu kéo, mong "đến đây thì ở lại đây" (ca dao) : "từ trong cổ lục / em là tiểu thơ / lòng quen khuê các / tây hiên đứng chờ (...) về tây hiên cũ / nghe mưa đầu sông / tóc em hà xứ / đời ta tang bồng" (Chuyện Tây Hiên).

Nhà thơ thường xem sách thi phú của người xưa, như một chốn trú ẩn tinh thần dù  "... bụng chứa trăm ngàn trang sách cũ / mà nghĩ chưa ra cái khốn cùng" (tr. 130). Ngày nọ, ông đọc Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu rồi so thân và trách cứ người xưa :

"(...) ông bỏ nhà chơi lung / ta rời quê kiếm sống / đất trời không biết tên / bao ác tà thỏ lặn / (...) thêm lần đọc thơ ông / giá được cười ngạo mạn: / ta xa quê ngàn trùng / ông cách quê mấy dặm!" (Đọc Lại Hoàng Hạc Lâu).

Thiên hạ đua nhau dịch thơ Thôi Hiệu, trong khi Hoàng Lộc nhắc đến nhà thơ Trung Hoa xưa như cái cớ vì ông thích nói chuyện với người xưa. Thôi Hiệu trong bài thơ bất hủ đó nhất là ở bốn câu đầu đã chỉ nói đến người xưa (Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ / Thử địa không dư Hoàng hạc lâu / Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản / Bạch vân thiên tải không du du ...). Và Hoàng Lộc có lý, người xưa chưa chắc tình cảnh đã bi đát như chúng ta hôm nay, đã than thở khi mới chỉ xa quê vài dặm đường! Nguyễn Du là một trường hợp khác! Lý Bạch trong Khách Trung Tác đã thử định nghĩa tha-hương: "bất tri hà xứ thị tha hương" (không biết nơi nào là tha-hương) có thể đã muốn mang ý nghĩa siêu hình, thì "nhật mộ hương quan hà xứ thị" của Thôi Hiệu cũng là tiếng thét bi đát, xót xa của thân phận con người thật nhỏ bé trong vũ trụ và vô nghĩa trước bước đi của thời gian!

Nhà thơ viết tặng Chiêu Quân, về cái thảm thiết của nàng là bản đàn biệt xứ bi ai khi phải bị cống Hồ và khi chết chôn đất Phiên cỏ mọc đỏ như cỏ quê nhà Hán quốc. Ông níu kéo người xưa để nói chuyện tình yêu và nhân tình thế tháị .

 

 

Trong Về Một Khúc Đàn Tình, Hoàng Lộc dùng khúc đàn Phượng Cầu Hoàng như để nói lên cái tâm sự của ông với những lời thấm thía, cô đọng. Thi sĩ đàn anh Vũ Hoàng Chương thường mượn hình ảnh người xưa trong thi ca ông, nhưng những hình ảnh hoặc ý đó có tính cách trừu tượng, hoặc là thi ý, trong khi với Hoàng Lộc, ông đến gần người xưa và đồng thời đưa người xưa đến với người thưởng ngoạn thi ca của ông.

Tập thơ nói chung đưa người đọc trở về một không gian đã đầy rong rêu phủ kín, nơi đó có những âm vang của tiền nhân và những "hồn ma" quen thuộc cũng như lạ lẫm. Với những hình ảnh cổ điển hay chữ dùng cổ lỗ nhưng nên thơ như chú ngựa thồ, bờm xích thố, châu, quận, cố thổ, cố hương, cố xứ, trời cố xứ, mùa lưu viễn, khúc nguyệt cầm, hồng nhan, ly phụ, nương tử,
rượu tàn niên, quán cô hồn, khúc tống-biệt, người vô lượng, mái tà huy, cao đồ, ... Với nhiều điển tích : Phượng Cầu Hoàng với Tư-mã Tương-Như và Trác Văn Quân, Phạm Thái-Quỳnh Như, Từ Hải, Hoàng Hạc Lâu, Hán Đế, Chiêu Quân, Lã Vọng, Sâm Thương, khúc Hậu đình hoa, thư cưu, bài Tẩy Mã với Uất Tri Cung, tang điền thương hải, rau đất Thú Dương, ... Hay cả câu : "bạn bè trong gió -hỏi: / quân tử ý như hà? /quân tử mà thiếu rượu / hỏi đời còn nhận rả" (tr. 154). Tất cả đã thành công tạo nên một không gian trong một thời gian!

Trong cái xưa cũ còn có CỐ HƯƠNG. Có thể nói cái lõi của tập thơ là những hoài niệm quá khứ, người xưa, quê cũ,... Dòng thơ Hoàng Lộc cũng là dòng thời gian mà suối nguồn là dĩ vãng, dòng nước đi qua những chốn quê hay đô hội, những cõi trời, những trăng sao, có những bờ bến đam mê, những bến đợi, những chuyến đò lỡ, những ngọn đèn hắt hiu,...

"trường giang ơi trường giang
tài tử ta không đường
chiếc thuyền con mặc dòng nước chảy
ngó bến nào rồi cũng cứ mù sương (...)"
(Câu Đêm Ở An Bàng)

Mênh mông sông lớn ở đây cho thấy phận người đáng cảm thương hơn những sông lớn của Huy Cận tiền chiến và Tô Thùy Yên hậu chiến. Thơ Hoàng Lộc đưa người đọc đến với người xưa và với quê hương thân thương Việt Nam. Anh hay nhắc đến những địa danh Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam, Huế, anh gắn bó thơ anh với những không gian yêu dấu một đời đó, cứ xem những tựa đề cũng đã rõ, nào "Ngày Trở Lại Hội An", "Về Hội An Uống Rượu Đợi Người", "Ra Tù, Về Lại Hội An", "Hội An Sương Mù", "Ngựa Ô Về Duy Xuyên", "Qua Đò Duy Vinh", v.v. Quê nhà của Hoàng Lộc là một quê nhà cổ kính:

"phố mù sương -theo mù sương
lay bay những cánh thơ Đường trong ta
hoang sơ bến cũ cây già
mong chi có chuyến đò qua gọi mình?
phượng hoàng nào đậu cành xanh
giùm kêu một tiếng cho đành tịch liêu
nhà người mái cổ vàng rêu
mà ta lẩn quẩn những điều không đâu!"
(Hội An Sương Mù)

Người con phải xa quê mẹ vì nghiệp lính phải dong ruổi bốn phương trời đất nước :

"(...) lại chỉ mình anh qua hè phố lạ
chân lênh đênh không bước kịp tình người
nửa kiếp sống cứ thua hoài thiên hạ
sự nghiệp buồn gió thổi chiều ba mươi
(...) khi dong ruổi với trăm lần lỡ vận
bỗng nghe thèm tắm lại nước sông quê
(...) mẹ ở đó cũng buồn hơn tháng chạp
lòng mỏi mòn tựa cửa chừng ấy năm (...)"
(Lại Một Mùa Xuân Sầu Xứ)

Con người phiêu lãng chưa tròn sự nghiệp nên khi về lạiquê nhà cứ tưởng vẫn còn phiêu bồng :

"người ơi đời ta như mùa đông
về đây mà tưởng còn phiêu bồng
quê nhà, quê nhà ra đất lạ
ai còn nhớ ta thằng tay không?(...) " (Rượu Mùa Đông)

Cái tình quê hương đó càng đậm đà ở những bài sáng tác ở xa xứ. Đó là tâm sự lữ thứ :

" (...) chỉ khi khuya lắc nằm không ngủ
bất giác nghe tiếng mình thở ra
nghe máu chảy buồn thân lữ thứ
mới đau rưng rức một quê nhà
chính khi đã thấm mùi lưu lạc
là lúc lòng ngưng nghỉ đợi chờ
là lúc cây đời ta hết nước
xứ người nghiêng một bóng cây khô.."

 

 

(Thấm Mùi Lưu Lạc)

"Bóng cây khô" sẽ có lúc đến bên "tràng giang" Mississippi xứ người, mà tâm sự :

"ngươi trôi tới đây từ phương bắc
ta giạt về đây từ phương đông
ta với người cùng nhau trôi giạt
đời ta buồn đời người buồn không?
(...) ta với ngươi cách quê đều xa
đáng khi tâm sự phải sa đà
ngươi chẳng buồn chi ngươi chảy xiết
bỏ trời lưu lạc một mình ta.."
(Nói Với Dòng Mississippi)

Từ nỗi buồn lữ thứ, cái ám ảnh "tàn xương" như có cái ngậm ngùi của Nguyễn Du :

"ở đây mắt mắt toàn thiên hạ
từng ngó ta như ngó lạc loài
nửa tóc cho nhau đều bạc cả
sợ tàn xương lại gửi quê ai!
(...) ta lạ đất trời, thương cố thổ
trăng buồn đâu thể giữ màu xưa (...) "
(Về Thuở Chia Xa)

Buồn, tác giả hay nhìn về phương Đông, quê nhà :

"sáng dậy anh thường nhìn phương đông
khi quê nhà đang ở đầu hôm
em với anh hai trời một nỗi
như vì sao có tên Sâm Thương (...)"
(Sâm Thương Một Nỗi)

Hoàng Lộc cho thấy cái nhân sinh quan của nhà thơ ở tuổi "tri thiên mệnh" : "biết từ cái-nửa-trăm-năm / thứ chi đã trải đều lầm hết trơn" (Ngày Tri Thiên Mệnh) và không khỏi âu lo trước ngày tàn hơi, nơi mộ địa xứ người, buồn hơn cả Đạm Tiên hơn ngàn năm trước: "(...) rừng phơi rừng trơ xương / trắng mờ cây thập tự / hãy còn kia thiên đường / cho chiếc hồn lạc xứ? / mắt nuối trừng phương đông / cố hương hàng vạn dặm / chỗ ta và thơ nằm / không chút mồ, chút nấm! (...) / cỏ vàng khô, cỏ mục / hơn mồ Đạm Tiên xưa / chỉ không mầu khói sót / càng không người lệ dư / cũng chẳng còn ai biết / đọc ra câu bia đề : /một nhà thơ gốc Việt / đã chết buồn xa quê ..." (-Mộ Địa Cạnh Phố Millington)

Nói chung thơ Hoàng Lộc có cái không khí cổ kính dù kỹ thuật thơ hiện đại. Ông muốn ôm cái vô biên, làm như đã lắm thất vọng đời thường. Đến đây, người đọc đã thấy Hoàng Lộc đưa người thưởng ngoạn đến một không gian buồn, thường quạnh vắng, một quạnh vắng đến tận cõi hư vô. Cảm thức Hoàng Lộc đầy hoài niệm, như sống với quá vãng, một thứ thời gian dệt bằng kinh nghiệm sống, đã qua nhưng vẫn bàng bạc cái không gian hôm naỵ Hoàng Lộc đem cái vô-thể (thời xưa, người xưa) sang hiện-thể qua những vần thi ca trữ tình.

Cái thế giới hoài niệm đó chứa chan TÌNH YÊU, ở Hoàng Lộc là một thứ tình u mặc. Người thơ Hoàng Lộc đa tình, trung thành, sống chết với tình, da diết, nỉ non: "(...) hóa gió tấm lòng em / ta bay / cùng nhau về đâu chẳng được / bởi chỉ vì em / ta dính dáng với đời này!" (Mây Tâm Sự). Người thơ đa tình đem "bài thơ lớn" đi mời: "em chê ta nhiều tình trước / nên e dè không dám nhận tình sau / bài thơ lớn, nếu cần, em đọc suốt / ngập ngừng chi dòng cuối với câu đầủ" (Tình Sau Tình Trước). Và "em đi thử đất trời nào / ai yêu ráo máng cạn tàu bằng ta" (tr. 128). Con người "mãi lơ mơ suốt một đời tình / mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp" đó đói yêu "như chú ngựa hoang mấy trời dong ruổi / gặm  miếng cỏ nào cũng thấy thơm ngon" (tr. 88).

Yêu bất kể cả khi người yêu đã lấy chồng, đã có chửa vượt ngực, "tay bế tay bồng". Chàng vẫn dai dẳng bắt người yêu phải so sánh chồng với chàng, mất người yêu vẫn "anh hùng" muốn nàng phải "tiếc":

"gã đàn ông em chọn để sống đời không được giống anh -có những diều không được giống!
(...) thứ gì em muốn ở anh, hắn cũng thể như in nhưng hắn không được giống anh những lời thỏ thẻ để em tưởng tình yêu nào cũng thế không được giống anh cái thoáng môi cười  để em tưởng em về với hắn mà anh vui".
(Không Được Giống Anh)

Những khẳng định vu vơ trễ tràng! Nhưng cũng có lúc chàng phải nài van:

"đã quen mắt trước những trò dâu bể / thôi van em đừng nắng sớm mưa chiều / ta sẽ tới những miền không thể  tới / và đời tình may rủi cũng xin theo (...) ”
(Thơ Cuối Gửi Duy Xuyên).

Chỉ mong tình hiền hòa như loài chim thư cưu sóng cặp bên nhau dưới nước mà cũng đã khó! Nhà thơ nòi tình, yêu nhiều sẽ thất tình nhiều, người yêu sẽ là dĩ vãng: "(...) em đã lâu nay thành dĩ vãng / nhớ em là nhớ kẻ vong tình..." (Vô Tình Khúc). Hay : "(...) chuyện chồng con, em đã rồi -yên phận / có đâu ngờ đau đớn mãi theo ta ! (...)"
(Thời Hết Thời -Hội An)

Kẻ đa tình cũng có lúc biết nhận lỗi : "đã yêu ở Hội An / tình đã ra cửa Đợi / tới đâu, dù được yêu / cũng nghe mình có lỗi (...)” (tr. 198). Nhận làm kiếp sâu đo: "lâu rồi ta kiếp sâu đo / quẩnquanh trăm lá sầu khô một đời / em qua gió tạt từng hồi / xô ta lủng lẳng giữa trời oan khiên "(Bất Ngờ Gặp Quế Linh Ở Tân Định).

Lận đận đời, có lúc chàng mơ gái có chồng hơn gái còn son, và cái "tình mười năm" cũng đáng cho chàng "lạ vườn thê thiết một mùi hương":

"cái bụng tròn và cổ nổi gân xanh
hắn đã làm chi em mà em ra thế ấy ?
một chút đớn đau -vô số bất bình
lạy trời cho ta thôi đừng ngó thấy !
(...) chỉ mấy tháng nhà người, em nỡ nào thiếu phụ
lạ vườn chiều thê thiết một mùi hương
cổ nổi gân xanh và cái bụng tròn
em ngốn trái khế chua bên hè phố chợ
lạy trời cho ta thôi đừng thấy nữa
để xin một đời nhớ nhớ quên quên
để khỏi một đời lực bực với chồng em..."
(Bực Tức Ca)

Bực tức được thăng hoa thành thi ca, Hoàng Lộc là một! Và khi thua trận bị ở tù, ở chỗ vô định và bất nhân, lại được tin người tình phản bội: "mồ tổ nhà em, loài bất nghĩa / hai năm lòng cũng đủ quên rồi / ta như con chó không buồn sủa / chỉ gầm gừ ngó cuộc tình trôi!" (Bài Thơ Tình Trong Tù). Tâm sự người thua trận buồn nhưng vẫn bi tráng: "... mai lúc ngày đưa tin chiến bại / kinh thành ta sẽ bó đôi tay / hồn nghiêng gặp áo khinh cừu trắng / sự nghiệp buồn tênh, em có hay ..." (Thất Trận).

Người nhiều tâm sự, nhận hết mọi thua thiệt dễ đến với bạn Rượu/. Có say mới thấy sông Tương: "(...) ngồi với rượu mới hay lòng rã mỏi / mới thấy sông Tương đã cạn bao giờ (...)" (tr. 92). Những khuya với rượu vì chàng biết "nếu sống lại thêm mấy lần chiến quốc / ta chắc gì là tay kiếm xuân thu" (tr. 74). Cũng có lúc chàng đòi "đôi đường ân oán": "(...) ai dễ cần ta chút hồn đã cũ / em phải một đời bận bịu chồng con? / ta với cái buồn chẳng ai buồn hơn / ngậm điếu thuốc rê gật gù thở khói / giá mà còn em cho ta được nói / chắc đôi đường ân oán cũng không xong!" (tr. 81).

Người thơ say nhưng tâm sự da diết, nói với người xưa, thật xa xưa "chuyện nghìn xưa thầm hỏi chuyện nghìn sau", như Quan Vân Trường:

"Quan Vân Trường mặt đỏ cũng thành danh
ta đỏ mặt hơn ông, đời lại hỏng
ông cốt cách quỳnh tương, ta hồ đồ rượu dỏm
cuộc trăm năm đã đến thế -hoang tàn
Kinh Châu, Kinh Châu mờ hơi sương
lòng ông, lòng ta -ai biết được?
hào khí ngời thanh long, cũng sụt sùi ngọn bút
chuyện nghìn xưa thầm hỏi chuyện nghìn sau
ông còn đất để về, ta biết về đâủ
mịt mịt trời sương -mờ mờ thân thế
châu với quận đã lạc loài tri kỷ
mảnh trăng suông vừa nhạt thếch rượu mời (...)"
(Bữa Say, Ghé Chùa Ông Hội An)

Bốn câu "Kinh Châu, Kinh Châu mờ hơi sương ..." đọc lên như thấy được nỗi căm phẫn của Hoàng Lộc trước nhân tình thế cuộc!

Tâm sự nhiều, khi bên rượu, nhất là những ngày cuối năm : "rượu tàn niên chừ gió xa xăm / gió chi thổi riết năm mươi năm? / quán cô hồn một ta chớ mấy / sợ -mà khinh -những cái thăng trầm / (...) gõ ly ơ hờ du tử khúc / tứ xứ còn nghiêng mỗi bước chân (...) / giá có em cùng chia chút rượu / dễ khi gió đã lặng bên trờỉ / và ta chẳng vạn lần như một / hễ tới là tan ngắt cuộc vui (...) " (Rượu Cuối Năm). Rõ là rượu vào dễ nghĩ đến tình nhân! Và người "nhớ rượu" sẽ có lúc sợ mất người tình : "chết đi thì quá ngặt / bỏ lại em bên đời / lỡ có thằng chôm trớt / ta nhắm mắt nào nguôi" (tr. 153). Rượu mà nhìn trăng, trăng sẽ trở nên ám ảnh đời, đã trở thành dĩ vãng: "trăng chết vô tình trên giấc mộng / là trăng vỡ lỡ mộng hôm qua / ta khóc vô tình trong cuộc sống / là vô cùng ta xót thương ta" (Vô Tình Khúc).

Nhìn chung, Hoàng Lộc kỹ thuật chăm sóc đi đôi với một nội dung đầy tâm sự của một thế hệ phẫn chí trên một đất nước cùng đường. Tác giả khéo dùng chữ địa phương Quảng Nam hay miền Trung như: chia chác, lâu hung, gái gung, buồn kinh, chơi lung, mỏi cẳng, bương theo, ... "rứa thôị chỉ rứa một lần -  ta bương theo những thăng trầm mà qua..." (tr. 195)

"... như ta đây rồi sẽ khổ vì em
chớ điên cha chi lại uống say mềm?" (tr. 85).

-nhiều bài, Hoàng Lộc đã chứng tỏ tài dùng chữ, như "ta" với "ngươi" nhiều dụng ý:

"(...) kể ta nghe tình ngươi lận đận
kể ngươi nghe tình ta hoang đường
xin đổi ta đời ngươi hoạn nạn
xin đổi ngươi đời ta tai ương
(...) cứ kể ta là ta thất trận
hơn chi ta mà xưng anh hùng
ta biết ngươi còn ai biết nữa
ngươi biết ta còn ai nữa không? (...)"
(Rượu Mùa Đông)

Hay "hồ Tịnh Tâm, tâm dễ lặng tờ?" (tr. 168); "gió bạt đời, bạc tóc" (tr. 189). Có những ví von nên thơ như "chuyện con rồng với chữ tình như hệt / phải tình kia là một giống rồng thiêng? / (...) mỗi cặp tình nhân là một người thợ vẽ / những tam sao làm thất bổn chữ tình"
(tr. 121).

Con người Quảng Nam còn thể hiện qua giọng thơ ngang tàng "ơi những đại thánh hiền nghìn năm trước - với đời này hơi sức dễ bao lăm ?", v.v. Thơ Hoàng Lộc có không khí ca dao của ruộng đồng quê hương:

"(...) ngày đó tưởng xa là chết được / ai ngờ con sáo cũng sang sông / ngày đó môi em là mật ngọt / ai có ngờ cay nát tấm lòng (...)" (Vô Tình Khúc)

"(...) em có buồn cũng chưa chắc bằng anh / khúc tống biệt chỉ đau lòng kẻ ở / khi con sáo đã cam lìa cố xứ /  thì bến đời ai nhắc chuyện phôi pha (...) (Lời Dỗ) "(...) đã tới ngày em bay qua sông / ơi con sáo nhỏ vừa sổ lồng..." (Tới Ngày Em Quên)

Hay : "người trong thơ xưa lặn lội bờ sống / hay vẫn chỉ là em, cái cò tội nghiệp?" (Thơ Tặng Vợ Nhà)

+

Tóm một chữ, hơn tám mươi bài thơ của Hoàng Lộc như những dòng "tứ tuyệt bên trời", "nến thắp chờ xuân. đợi sáng đêm / ngẫm từng không phải, từng không nên / té ra mình ép mình xuôi ngược / giọt máu hồng khô cuối ngọn đèn" (tr. 190). Có cái dũng cái tâm của người sĩ phu kể cả lúc phải tha hương bên trời lận đận! Qua Mấy Trời Sương Mưa là thi phẩm thứ ba của nhà thơ Hoàng Lộc, vẫn đi trong dòng thơ phẫn nộ và nhiệt thành, dòng thơ chính của các nhà thơ miền Trung từ những thập niên 50, 60 -cũng là thời điểm ông khởi làm thơ. Riêng tập thơ này, ý thơ và tâm tình ông vẫn "nóng", nhưng tất cả những thứ đó ông đã gói trong cái thâm trầm đã chín của ông, trong cái thua thiệt chấp nhận với số mệnh!

Thi ca trước nhất là để cảm và làm đẹp cuộc đời, như hoa, mỗi hoa mỗi sắc. Đọc thơ Hoàng Lộc người ta dễ cảm với thơ ông, dễ mở lòng ra với tâm sự ông, dễ bồi hồi và nao buồn theo dòng đời trôi nổị Trong giới làm thơ, người lớn tuổi thường rượu cũ quen bình cũ, thường những vần điệu quen, người trẻ thiếu vốn sống và dễ thiếu chiều sâu và điềm đạm của đàn anh, nên có người thiên về kỹ thuật hay hình thức quá, có khi trở thành xảo thuật, bí hiểm, lai căng, hủ nút.
Hoàng Lộc, nhà thơ điềm đạm, vụ phẩm hơn lượng, khi viết về nhân sinh cũng như tình yêu, có bề sâu tư duy, đồng thời có kỹ thuật, chữ dùng đặc biệt, thơ vừa có hồn vừa có âm điệu riêng. Hoàng Lộc đã thành công đưa người thưởng thức nghệ thuật vào thế giới riêng của ông. Điểm khác đáng nói ở nhà thơ xứ Quảng là ông đã thành công đem thời đại đầy gió bụi, tai ương vào thi ca, thơ ông có sự sống vì lẽ đó!

 

Hoàng Lộc có cái bất biến là tâm hồn á đông, dân tộc nhưng hiện đại -tâm hồn của con người hôm naỵ Có sống sót sau một cuộc chiến tàn bạo như cuộc chiến vừa xảy ra trên đất nước mới cảm nhận được trọn vẹn tình ý của nhà thơ, tâm hồn và những nẻo khuất của bản ngã. Phải đọc thơ Hoàng Lộc với kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ, đam mê và khủng hoảng của mỗi người . Thế giới đầy những âm vang của vạn cổ của Qua Mấy Trời Sương Mưa đã là những "ảo ảnh" nghệ thuật tuyệt vời, đã đưa người thưởng thức đến một cõi mênh mang. Như người xưa, như Nhượng Tống khi không làm cách mạng đã tìm đến Mái Tây. Mái Tây hôm nay yên tĩnh khi đất trời chớm Thu, ngâm nga những vần điệu thương cảm. Theo thiển nghĩ, Hoàng Lộc đã thành công giữ người khách thơ ở lại lâu bên Tây sương, với tình với rượu, với những nhớ nhung, tâm sự, lớn, nhỏ, nhiều sương, mưa, mây trời, sông nước ! Người xưa từng sống, từng hạnh phúc và chịu khổ nạn, nhưng hôm nay chỉ có chúng ta. Hình như đó cũng là cái bi đát của kiếp người Việt ở nửa cuối thế kỷ XX !

 

26-9-1999


 

NGUYỄN VY KHANH


(Văn Học Và Thời Gian)

 


THƠ CAO THOẠI CHÂU

— Viết bởi hoangloc @ 07:47

 

 

MƯA CHIÊM BAO

 

Tôi lại về đứng sững trên hiên

Đêm xuống giữa lòng mưa rả rích

Em có thấy loài chim trốn tuyết

Mượn hiên người rũ cánh dưới mưa đông

 

Tôi biết mưa cố ý không ngừng

Mưa cứ nhắm hồn tôi mà rớt

Con chim đứng say cùng trời đất

Giữa cơn buồn bị ngập xung quanh

 

Gió không vui trên những lá cây buồn

Hoa phải tự mình xoay sở lấy

Chiếc vỏ bọc hồn tôi cũng vậy

Em nảy mầm thành hạt bên trong

 

Mưa đêm nay mưa đến vô cùng

Phố co rúm nhận chìm trong nước

Tôi cũng vừa leo xong con dốc

Dưới hiên người bị ngập nửa chân dung

 

1994

 

 

CAO THOẠI CHÂU

 


KHI CHIÊU QUÂN TRỞ VỀ - THƠ HL

— Viết bởi hoangloc @ 01:38

 

 

khi Chiêu Quân trở về

 

ngày Hán Đế già nua

Chiêu Quân về cố xứ

vì mấy khúc đàn xưa

nàng ghé thăm người cũ

 

nàng không còn nhan sắc

vua chỉ còn xương da

người, như người đã khác

họ nhìn nhau không ra !

 

- người chi người thế ấy

mà có thời làm vua !

Chiêu Quân kêu khổ vậy 

lòng riêng gửi đất Hồ

 

- người chi người thế ấy

mà ta đã đau lòng !

vua cũng kêu khổ vậy

rồi riêng lo… đi nằm

 

*

 

anh sẽ buồn biết mấy

nếu ta như người xưa

 

em - bến nào sông ấy

mà trông không thấy bờ ?

 

 


«Trước   1 2 3 ... 17 18 19 20 21 22 23 24 25  Sau»

Powered by vnWeblogs